I- Chiến tranh và “người bản xứ”
Trước
năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên “Annamít” bẩn
thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai
trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức
họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan
cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn
quyền bé(2) nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho
cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do”. Nhưng họ đã
phải trả bằng một giá khá đắt cái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho
cái công lý và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào, họ đã
phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để
vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu. Trong
lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kỳ
diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy
biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đã bỏ xác tại
những miền hoang vu thơ mộng vùng Bancăng, lúc chết còn tự hỏi phải
chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, – chả
thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì đã
anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mácnơ, hoặc trong
bãi lầy miền Sămpanhơ, để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của
các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài
thống chế.