Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014

Báo cáo viên đặc biệt LHQ tại Hà Nội: Sự thật không dễ che đậy

(Có cả 2 phần)

JB Nguyễn hữu Vinh – RFA

Phần II: Đường đi hay tối, nói dối hay cùng
Những nổ lực ngăn chặn tìm hiểu sự thật
Bản Tuyên bố của Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về tự do tôn giáo, ông Heiner Bielefeldt chứng tỏ một điều: Ông làm việc với nhiều nỗ lực và nghiêm túc khi tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam.



Tuy nhiên, ngay từ đầu bản Tuyên bố cũng nói rõ những vấn đề ông phải đối mặt và những điều ông đã không thể thực hiện dù Việt Nam đã cam kết. Đó là: “Dự định đi thăm An Giang, Gia Lai và Kon Tum của đoàn không may đã bị gián đoạn từ ngày 28 đến 30 tháng 7. Tôi nhận được những thông tin đáng tin cậy là một số cá nhân tôi muốn gặp đã bị đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ, cảnh cáo, đe dọa, sách nhiễu hoặc bị công an ngăn cản việc đi lại. Ngay cả những người đã gặp được tôi cũng không tránh khỏi việc bị công an theo dõi hoặc chất vấn ở một mức độ nhất định. Ngoài ra, việc di chuyển của tôi cũng bị giám sát chặt bởi “những cán bộ an ninh hoặc công an” mà chúng tôi không được thông báo rõ, đồng thời sự riêng tư và bảo mật của một số cuộc gặp gỡ cũng bị ảnh hưởng. Những việc này là sự vi phạm rõ ràng các điều khoản tham chiếu của bất kỳ chuyến thăm quốc gia nào”.
Có lẽ, với những nhận định nêu trên, hẳn không cần nói người ta cũng hiểu dù ông đã nỗ lực, thì sự nỗ lực tìm hiểu của ông cũng đã bị hạn chế nghiêm trọng khi tìm hiểu sự thực về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Và điều cần nói nữa, là ở đây, một lần nữa Việt Nam đã bất chấp khi tiến hành “sự vi phạm rõ ràng các điều khoản tham chiếu của bất kỳ chuyến thăm quốc gia nào” như ông đã khẳng định.

Trong cuộc họp báo, ông cũng nhắc nhiều đến những cơ quan ông có thể dễ dàng được gặp và được cung cấp thông tin không hạn chế. Đó là Ban Tôn giáo Chính Phủ, Tòa án nhân dân Tối cao và các cơ quan, quan chức cấp cao của chính phủ, thậm chí là các nhóm tôn giáo được nhà nước ưu ái mà ông đã chỉ ra như: “nhiều tôn giáo đã trở thành thành viên của Mặt trận Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tổ chức tôn giáo lớn nhất trong Mặt trận Tổ quốc là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam”. Khi đến gặp Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, ông được HT.Thích Thanh Nhiễu – Phó chủ tịch TT HĐTS GHPGVN cung cấp thông tin rằng: “”Việt Nam là nước tự do tôn giáo”, mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” – Rất may là ông Hòa Thượng này chưa lên cơn như ông Thích Thanh Tứ lên Diễn đàn Quốc hội chửi ông Thích Quảng Độ.
Hẳn nhiên, nếu đến những chỗ đó để tìm hiểu sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam, có khác gì câu ngạn ngữ dân ta vẫn dùng là đi tìm “chạch đẻ ngọn đa, sáo đẻ dưới nước”.
Nói dối hay cùng
Thế nhưng, ở đời nhiều khi có những chuyện nực cười và quái gở. Cái sự thật dù góc cạnh, xấu xí thì vẫn toát lên được vẻ đáng mến và người ta dễ chấp nhận hơn nhiều sự dối trá bóng bẩy. Điều mà ông Heiner Bielefeldt lấy làm ngạc nhiên là sự hoàn hảo, sự tự do gần như tuyệt đối ở Việt Nam về vấn đề tôn giáo qua các thông tin, các lời nói và văn bản mà ông được cung cấp khi gặp các quan chức và cơ quan nhà nước. Ông đã nhấn mạnh rằng “ông hỏi đi hỏi lại nhiều lần” các cơ quan như Tòa án Tối cao, các cơ quan quản lý nhà nước về Tôn giáo rằng có vụ việc nào xâm phậm tự do tôn giáo hoặc lời khiếu nại, kêu ca về điều này ở Việt Nam hay không? Và câu trả lời ông nhận được là “Không, không hề có”.


Ông viết: “Kể cả thành viên của Tòa án Nhân dân Tối cao cũng không biết một vụ việc nào. Đây là một kết quả đáng ngạc nhiên – và càng ngạc nhiên hơn khi trong thực tế có nhiều mâu thuẫn về đất đai đã được thông tin đến tôi. Một số mâu thuẫn có vẻ có liên quan đến khía cạnh tự do tôn giáo, ví dụ như khi mảnh đất trước kia đã được dùng cho nghĩa địa tôn giáo hay các nhà thờ tự đã bị lấy đi để phục vụ phát triển kinh tế”.
Thì ra, không nói ra đâu phải là người ta không biết và sự thật đâu dễ che đậy bằng đầu môi, chót lưỡi. Nhà nước Việt Nam không hiểu lẽ đời cha ông đã nhắc: “Thánh nhân còn có khi nhầm”, hay “Ngọc còn có vết”. Thế nên khi cả bộ máy nhà nước CSVN “hoàn hảo đến tuyệt đối, chánh nghĩa sáng ngời” và họ nói đến điều đó không chút ngượng ngùng, mạnh miệng kiểu Nguyễn Sinh Hùng – Ông này đã hùng hồn tuyên bố kiểu “Đến 2013, Vinashin sẽ có lãi” , hoặc “Thời điểm này, nếu nhà đầu tư nào bán tháo cổ phiếu thì sẽ thất bại, ngược lại người nào có quyết định mua vào thông minh sẽ thắng” – thì dù là người cả tin đến mấy cũng buộc người ta phải nghi ngờ.
Và thực tế là điều đau đớn khó chấp nhận đã được làm sáng tỏ cho dù có bị cố tình che đậy bằng nhiều cách chơi xấu.
Ngài Báo cáo viên đặc biệt của LHQ đã kết luận về tình trạng luật pháp đáp ứng các đòi hỏi pháp lý của người dân ở Việt Nam hiện nay như sau: “Từ góc độ pháp quyền, tình trạng này còn xa mới được coi là thỏa mãn tinh thần thượng tôn pháp luật”.
Những kết luận gây choáng và những điều chưa nói hết
Bản Tuyên bố nêu các vi phạm có hệ thống từ phía nhà nước các quyền tự do tôn giáo của công dân. Từ Pháp lý, luật pháp cho đến các vấn đề cụ thể như quyền tự do tôn giáo ở mỗi người, mỗi lĩnh vực của cuộc sống. Từ các biện pháp hạn chế quyền tự do tôn giáo bằng các biện pháp hành chính như “Đăng ký” cho đến những hoạt động thực tế cản trở quyền công dân của họ, như phá phách, đàn áp. Từ việc các tôn giáo không được có tư cách pháp nhân cho đến việc nhà nước can thiệp vào cả việc đào tạo giáo chức và bổ nhiệm các giáo sỹ. Từ việc các tài sản của tôn giáo không được bảo vệ cho đến các vụ tranh chấp, thực chất là cướp đất tôn giáo của nhà nước… nhiều vấn đề đã được đề cập khá đa dạng.
Đặc biệt, trong bản Tuyên bố, nêu lên hai vấn đề hết sức khẩn cấp nhưng là chuyện như là viễn tưởng ở Việt Nam, đó là quyền tự do tôn giáo – một phần cơ bản của quyền con người – trong các nhà tù và các đơn vị vũ trang, đã không có trên thực tế.
Tuy nhiên, bản Tuyên bố của ngài Báo cáo viên đặc biệt vẫn thể hiện rất rõ sự thiếu hụt và tầm vóc của các vấn đề vi phạm đã xảy ra trong thực tế ở Việt Nam. Nói cách khác, việc ngăn chặn những tiếng nói nói lên sự thật và che đỡ những vi phạm của nhà nước, dù có thể bị mất mặt trước thế giới – thì vẫn phần nào có tác dụng cho bộ mặt đỡ bị phơi bày.
Ở đó, những lời biện hộ của nhà nước nhằm che đậy sự vi phạm quyền tự do tôn giáo vẫn chưa bị vạch trần đầy đủ. Ở đó những chữ nghĩa, văn bản vốn vẫn được coi trọng như ở các nước khác mà không được định nghĩa rõ ràng rằng ở Việt Nam, văn bản pháp luật và thực tế đời sống đang tình trạng như lửa và nước.
Những lý do được viện dẫn

Việt Nam đã phê chuẩn hầu hết các công ước nhân quyền quốc tế, bao gồm Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị. Tuy nhiên, các biện pháp hạn chế quyền tự do tôn giáo của người dân, những đàn áp, bắt bớ và những điều đi ngược các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết… dù không làm ngạc nhiên những nhà báo Việt Nam vốn đã từng tiếp xúc hàng ngày với mọi chuyện. Có chăng là họ ngạc nhiên về sự tìm hiểu nhanh chóng và sâu rộng, lối làm việc nghiêm túc của vị báo cáo viên này. Còn đối với những nhà báo Quốc tế và những người chỉ biết đến tình hình Việt Nam qua các báo cáo và quan chức nhà nước, hẳn họ sẽ hết sức ngạc nhiên về một thực tế là quyền tự do tôn giáo đầy những vi phạm ở Việt Nam.
Trong Tuyên bố của mình, báo cáo viên đặc biệt của LHQ nêu rõ: “Việc cấm bất kỳ sự can thiệp mang tính cưỡng ép nào đối với nội tâm trong niềm tin tôn giáo, đạo đức hay triết lý của một người vì thế cũng có vị trí quan trọng trong luật quốc tế tương đương với việc cấm nô lệ hay cấm tra tấn. Đây là những quy định tuyệt đối không có bất kỳ ngoại lệ nào. Trong khi đó, Điều 24 Hiến pháp 2013 nhắc đến tự do tôn giáo hay tín ngưỡng nói chung mà không quy định cụ thể việc bảo vệ khía cạnh tâm linh cá nhân trong tự do tôn giáo hay tín ngưỡng”.
“…việc truyền bá tôn giáo hay tín ngưỡng trong phạm vi xã hội (“forum externum”, hay thế giới bên ngoài) không được bảo vệ vô điều kiện, theo luật quốc tế quy định… Việc này cần được thực hiện trên cơ sở nhận thức rằng tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, ở cả khía cạnh cá nhân và cộng đồng, có vị thế quy định là một quyền con người phổ quát”.
Trong thực tế đời sống tôn giáo ở Việt Nam, trên báo chí, người ta thường đọc thấy những cụm từ như “Truyền đạo trái phép” và bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, chưa bao giờ người ta định nghĩa thế nào là truyền đạo trái phép và đặc biệt là không có định nghĩa “Truyền đạo được phép” ở Việt Nam từ xưa đến nay.
Bản tuyên bố nêu rõ những lý do, những luận điệu mà nhà nước Việt Nam thường dùng để che giấu hoặc tạo cớ nhằm đàn áp, hạn chế quyền tự do tôn giáo của công dân. Bản Tuyên bố cũng nêu rõ sự khác biệt giữa các quy định quốc tế và hệ thống văn bản của Viêt Nam hiện hành. [1]
Ông Heiner Bielefeldt viết: “Khi trao đổi với các đại diện của Chính phủ, tôi thường nghe nhắc đến “pháp luật Việt Nam” nói chung… Trong các cuộc thảo luận với các quan chức Chính phủ ở các cơ quan khác nhau, bao gồm đại diện cấp cao của cơ quan lập pháp, tôi thấy những hạn chế rất rộng này được nhắc đến nhiều lần. Viện dẫn “lợi ích xã hội” không rõ ràng cũng có thể, thậm chí, dẫn đến truy tố tội hình sự, theo Điều 258 Bộ luật Hình sự”
Tóm lại, các văn bản luật pháp quy định một cách mơ hồ bằng những cụm từ không rõ ràng và viện dẫn các lý do không thực tế, chặt ché tức là đã cho các cơ quan chính quyền nhiều không gian để quy định, giới hạn, hạn chế hay cấm việc thực hành tự do tôn giáo hay tín ngưỡng”.
(Còn tiếp)
Hà Nội, Ngày 6/8/2014
  • J.B Nguyễn Hữu Vinh
[1] Để so sánh, các văn bản pháp lý liên quan của Việt Nam đã cho các cơ quan chính quyền nhiều không gian để quy định, giới hạn, hạn chế hay cấm việc thực hành tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Điều 14 Hiến pháp 2013 liệt kê một số lý do để hạn chế các quyền con người và quyền công dân mà, tôi cho rằng, cũng áp dụng với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Khả năng hạn chế các quyền con người vì lợi ích của “quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” đã khác so với các mục đích được liệt kê trong điều 18 ICCPR. Mặt khác, Pháp lệnh về Tôn giáo và Tín ngưỡng cũng đưa ra các mục đích như “lòng yêu nước”, “thống nhất đất nước”, “đoàn kết nhân dân” và “truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”. Thêm nữa, theo điều 8, khoản 2 của Pháp lệnh, “Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.”
Trong các cuộc thảo luận với các quan chức Chính phủ ở các cơ quan khác nhau, bao gồm đại diện cấp cao của cơ quan lập pháp, tôi thấy những hạn chế rất rộng này được nhắc đến nhiều lần. Viện dẫn “lợi ích xã hội” không rõ ràng cũng có thể, thậm chí, dẫn đến truy tố tội hình sự, theo Điều 258 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 của Điều này quy định: “Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.“ Tôi thấy một điều đáng lo ngại trong điều khoản này là việc không có quy định cụ thể hành vi như thế nào sẽ bị coi là “lợi dụng” tự do tôn giáo hoặc các quyền tự do dân chủ khác. – Trích Tuyên bố báo chí về Chuyến thăm Nước CHXHCNVN.
********************************************

Phần I: Tự do tôn giáo là QUYỀN

Nhân chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam của ông Heiner Bielefeldt – Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp Quốc (LHQ) về tự do tín ngưỡng – từ 21-31/7/2014, ngày 31/7/2014, ông đã tổ chức họp báo quốc tế về chuyến thăm của mình.
Cuộc họp diễn ra với nhiều hãng báo chí quốc tế lớn như Reuter, AP, Đức, các nhân viên Đại sứ quán các nước và báo chí, truyền hình trong nước.
Điều đặc biệt, có lẽ đây là lần đầu tiên, các blogger, các nhà báo độc lập và truyền thông “lề trái” cùng tham dự cuộc họp báo Quốc tế tại Hà Nội. Tôi được mời tham dự cuộc họp báo với tư cách là một Blogger, nhà báo độc lập vào 12h ngày 31/7/2014.


Cuộc họp quy tụ khoảng gần 100 người trong căn phòng không rộng lắm, khi tôi đến, các nhà báo, các đài truyền hình đã đông đủ từ VTV đến các báo lớn. Đặc biệt các hãng truyền thông quốc tế, những người mà tôi thường gặp tại các điểm nóng về truyền thông có mặt đầy đủ.
Ông Heiner Bielefeldt đã giới thiệu tóm tắt sơ lược về những nội dung trong bản Tuyên bố báo chí của ông về chuyến thăm. Đọc bản Tuyên bố báo chí, người ta thấy điều gì?
“Tôn giáo là quyền, không phải ân huệ Xin – Cho”
Có lẽ, ai đã đọc bản Tuyên bố báo chí của vị Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ngày 31/7/2014, đều thấm thía câu nói của Tổng Giám mục Hà Nội trước cuộc họp của UBND TP Hà Nội và Tòa TGMHN sáng ngày 20/9/2008: “Tôn giáo là quyền, không phải ân huệ Xin – Cho”. Cũng chính từ lời tuyên bố này, mà TGM Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt đã trở thành nạn nhân của hệ thống cầm quyền độc ác cũng như hệ thống truyền thông bẩn thỉu đã tiến hành chiến dịch cắt xén, vu cáo, thóa mạ để kích động cơn lên đồng tập thể ở Việt Nam năm 2008.
Bản Tuyên bố nêu rõ không chỉ những hạn chế của nhà nước Việt Nam trong thực tế mà ngay cả về luật pháp, không chỉ về văn bản luật pháp mà ngày cả những định nghĩa, quan niệm về tự do tôn giáo cũng được giải thích khá cặn kẽ.
Bản tuyên bố đã nêu rất nhiều những hạn chế về quyền tự do tôn giáo của người dân Việt Nam ngay trong các văn bản luật pháp đã ban hành. Chẳng hạn: “Điều còn thiếu trong các quy định pháp luật của Việt Nam về tôn giáo, trước hết là chưa nêu rõ rằng khía cạnh cá nhân trong niềm tin và nhận thức tôn giáo, đạo đức hay triết lý của một người – thường được gọi là “forum internum” (tâm linh, hay thế giới nội tâm) – phải được tôn trọng vô điều kiện và không bao giờ được áp dụng bất kỳ giới hạn chính đáng hay can thiệp nào với bất cứ lý do nào, ngay cả trong trường hợp khủng hoảng nghiêm trọng hay tình trạng khẩn cấp”.
Như vậy, nếu nhà nước Việt Nam đọc và hiểu được rõ ràng những điều này, hẳn sẽ không có những văn bản, những bản tin kể lể công lao rằng nhà nước đã cấp cho bao nhiêu nhóm tôn giáo hoạt động, đã “tạo điều kiện” cho các tín đồ tôn giáo trong các hoạt động tôn giáo, lễ hội ra sao.
Quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam bị hạn chế bằng “đăng ký”

Bản Tuyên bố nêu lên một điều mà người đọc giật mình về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam rằng: “Nhiều người chúng tôi tiếp xúc nhấn mạnh một thực tế rằng các điều kiện để thực hành tự do tôn giáo ở Việt Nam nhìn chung đã được cải thiện hơn so với tình hình sau 1975”. Hẳn nhiên, khi chứng minh về sự tiến bộ của quyền con người và tự do tôn giáo ở Việt Nam, cán bộ nhà nước có nhiều cách so sánh. Có thể với nhà cầm quyền hoặc một số quan chức, họ lấy làm hãnh diện về điều này. Song với những người có cách nhìn khách quan và tỉnh táo, đây thật sự là một nỗi nhục nhã của một chính quyền “của dân, do dân, vì dân” mà sự tiến bộ hiện nay được so sánh với điểm mốc là… gần 40 năm trước.
Thường khi bị chỉ trích về vi phạm nhân quyền hoặc các quyền lợi cơ bản của người dân về nhân quyền hoặc các quyền tự do tôn giáo, hầu hết các báo chí và cán bộ Việt Nam đều truyền vào đầu người dân một thứ lý luận như sau: Nhân quyền không thể cao hơn chủ quyền. Khi các tổ chức quốc tế hoặc quốc gia nào đó có yêu cầu Việt Nam thực hiện những điều nọ, điều kia trong các văn bản Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, thì hầu như thứ lý luận rằng “như vậy là can thiệp vào nội bộ Việt Nam” được sử dụng.
Tuy nhiên, trong bản báo cáo của mình, ông Heiner Bielefeldt đã chỉ ra một điều mà hầu như báo chí và quan chức Việt Nam ít khi nhắc đến, đó là điều 38 trong Pháp lệnh Tôn giáo nói rằng “các quy định trong các điều ước quốc tế sẽ có hiệu lực khi có khác biệt giữa quy định của Pháp lệnh và các điều ước quốc tế”. Hẳn nhiên là những điều quy định hiển nhiên này đã bị lờ đi ở nhiều nơi, nhiều chỗ, thậm chí trên báo chí chính thống nhiều khi nói ngược lại.
Điều đặc biệt rõ ràng là bản Tuyên bố đã kịch liệt lên án điều 258 của Bộ luật Hình sự Việt Nam, đó là “Cách thức quy định rộng và không rõ ràng trong Điều 258 đã đem lại cho các cơ quan chức năng liên quan khả năng tự ý định đoạt để ngăn người dân trong tất cả các loại hoạt động – kể cả thái độ ngầm của họ – nếu những hoạt động này bằng cách nào đó bị coi là mâu thuẫn với lợi ích của Nhà nước. Từ nhiều trao đổi thảo luận tôi đã nghe, đây không phải là một vấn đề lý thuyết đơn thuần, và Điều 258 Bộ luật Hình sự đã được áp dụng thường xuyên, và được áp dụng để hạn chế quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng và các quyền con người khác”.
Với những quy định hành chính để hạn chế quyền tự do tôn giáo của công dân, Tuyên bố báo chí đã đề cập đến việc quy định phải “đăng ký với chính quyền” về các hoạt động tôn giáo. Về điều này, ông nói rõ thái độ “Ngay cả với cách diễn giải thứ hai mang tính tạo thuận lợi hơn, tôi kinh ngạc thấy phạm vi của tự do tôn giáo vẫn còn rất hạn chế và không rõ ràng”. Ông định nghĩa:  “Việc thực thi quyền con người đối với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, bởi cá nhân và/hoặc trong một cộng đồng với những người khác, không thể diễn ra phụ thuộc vào bất kỳ hành vi công nhận hay phê duyệt hành chính cụ thể nào. Là một quyền phổ quát, tự do tôn giáo hay tín ngưỡng vốn có trong tất cả con người và vì thế có vị thế quy chuẩn cao hơn bất kỳ một hành vi hay thủ tục hành chính nào”.
Và ông kết luận: “Như vậy, quyền của một cá nhân hay một nhóm đối với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng của họ không bao giờ có thể “được tạo ra” bằng bất kỳ thủ tục hành chính nào. Đúng ra là ngược lại, việc đăng ký phải là phương tiện cho quyền con người này, mà bản thân quyền ấy phải được tôn trọng là có trước bất kỳ việc đăng ký nào. Trên cơ sở nhận thức chung ấy, việc đăng ký phải là một đề nghị của Nhà nước, không phải một yêu cầu bắt buộc về mặt pháp lý”. Và “Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng việc đăng ký chính thức theo quy định của Chính phủ không phải là điều kiện bảo đảm cho quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng được tôn trọng một cách đầy đủ”.
Trong hầu hết các văn bản quy định được nhà nước Việt Nam đưa ra, các văn bản trả lời các cá nhân, tổ chức liên quan trong nước và quốc tế về các hoạt động tôn giáo bị hạn chế và đàn áp, nhà nước Việt Nam thường xuyên viện dẫn việc “đăng ký” như một điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Thậm chí, việc đăng ký nhiều khi bị tước đoạt trắng trợn bằng những văn bản như “Sơn La không có nhu cầu tôn giáo” của Tỉnh Sơn La mà chúng tôi đã có dịp đề cập trước đây.

Mới đây thôi, một số tân linh mục của Dòng Chúa Cứu thế đã thậm chí không được dâng Thánh lễ Tạ ơn tại quê hương mình, chỉ vì không được nhà nước duyệt danh sách khi thụ phong linh mục. Đó là một ví dụ nói lên một chính sách tôn giáo ngặt nghèo về “đăng ký, xin phép” đến độ các nạn nhân là chính các linh mục tại quê hương Tân linh mục đã tự tước bỏ quyền tự do tôn giáo của mình.
Tại bản Tuyên bố báo chí tại Hà Nội, Báo cáo viên đặc biệt của LHQ đã khẳng định những văn bản, cách hành xử của Việt Nam căn cứ vào chuyện “Đăng ký” để hạn chế quyền tự do tôn giáo là sự vi phạm các cam kết quốc tế, các văn bản, tiêu chuẩn quốc tế mà Việt Nam đã cam kết khi tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.
Thiết nghĩ, đây cũng là một lần, để không chỉ quan chức, nhà nước và người dân mà kể cả các tổ chức tôn giáo hiểu được “Quyền” của mình là gì trong vấn đề tự do tôn giáo.
(Còn tiếp).
Hà Nội, ngày 1/8/2014
  • J.B Nguyễn Hữu Vinh


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét